Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

8 chất béo có lợi cho sức khỏe

Chỉ cần nghe tới từ “chất béo” là những người đang ăn kiêng đã lập tức tránh xa. Tuy nhiên, nếu ăn đúng cách, chất béo như dầu cá hồi, dầu dừa, ôliu… thực sự rất có lợi cho sức khỏe và thúc đẩy sự trao đổi chất, thậm chí còn giúp giảm cân.

Dầu dừa

Dầu dừa chứa nhiều chất béo bão hòa nhất trong các loại thực phẩm và có tới 90% axit béo dạng bão hòa. Cấu trúc phân tử của chất béo trong dầu dừa dễ đốt cháy hơn nhiều so với các chất béo khác. Khi cơ thể bạn hấp thụ dầu dừa, tốc độ trao đổi chất sẽ tăng khoảng 15%. Theo các nhà khoa học, những người tiêu thụ một lượng lớn các sản phẩm từ dừa, đặc biệt là dầu dừa đều ít có nguy cơ mắc các bệnh về tim mạch. Chất béo trong dầu dừa còn giúp người muốn giảm cân ăn ít calories hơn. Nhiều nghiên cứu còn cho thấy các loại chất béo trong dừa mang lợi ích cho bệnh nhân Alzheimer, làm giảm mỡ bụng.

Quả bơ

Quả bơ là một loại trái cây rất khác biệt, chứa đầy chất béo (khoảng 77% lượng calories của bơ là chất béo). Các chất béo này không bão hòa đơn, được gọi là axit oleic – có nhiều lợi ích cho sức khỏe con người. Ngoài ra, bơ còn cung cấp kali tốt nhất trong các loại trái cây, nó chứa nhiều kali hơn 40% so với chuối. Bơ cũng cung cấp chất xơ dồi dào. Các nghiên cứu đã chứng minh, mặc dù chứa nhiều chất béo và calories nhưng những người ăn bơ thường xuyên có cân nặng và mỡ bụng (ít hơn) so với những người ít ăn loại quả này.

Dầu ôliu là chất béo lành mạnh cho cơ thể.

Dầu ôliu

Dầu oliu là một chất béo không bão hòa lành mạnh cho cơ thể bạn vì nó dễ dàng được tiêu hóa. Dầu oliu có chứa vitamin E, K và rất nhiều chất chống oxy hóa giúp chống lại các bệnh viêm nhiễm bảo vệ tế bào máu khỏi bị oxy hóa. Nó cũng được chứng minh trong việc làm giảm huyết áp và cholesterol. Ngoài ra, dầu oliu còn có các vi chất dinh dưỡng giúp giảm các nguy cơ mắc các bệnh về tim mạch.

Bơ ghee

Mọi người vẫn cho rằng bơ sẽ làm tắc nghẽn động mạch vì nó chứa nhiều chất béo bão hòa. Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng bơ ghee giúp giảm cân, giảm nguy cơ mắc các bệnh về tim mạch, đột quỵ. Bơ ghee rất giàu chất béo hòa tan các loại vitamin A, E và K được hấp thụ dễ dàng nhờ vào hàm lượng chất béo của cơ. Trong bơ ghee cũng chứa CLA (viết tắt của conjugated linoleics acid) – là một chất béo chuyển hóa tự nhiên được chứng minh có thể cải thiện cân nặng cơ thể.

Hạt mắc-ca

Hạt macadamia hay còn gọi là hạt mắc-ca cùng với các loại hạt dẻ, hạt phỉ, hạt óc chó, hạnh nhân…chứa rất nhiều chất béo, chất xơ, protein. Bên cạnh đó, hạt mắc-ca còn cung cấp nhiều vitamin E và magie. Đây là những loại khoáng chất mà con người không cung cấp đủ. Ngoài ra, hạt mắc-ca chứa nhiều chất chống oxy hóa giúp ngăn ngừa những chất gây hại tiềm ẩn trong cơ thể.

Trứng có lòng đỏ

Lòng đỏ trứng gà vốn được cho là không có lợi cho sức khỏe của con người do chứa nhiều cholesterol và chất béo. Thực tế, lòng đỏ trứng gà cung cấp 100% các chất béo hòa tan các vitamin A, D, E và K cùng với canxi, sắt, kẽm, biotin, thiamin, folate và vitamin B6, B12. Ngoài ra, trứng còn chứa chất chống oxy hóa và rất nhiều choline – một chất dinh dưỡng dành cho não mà 90% người dân đang thiếu hụt. Đồng thời, trứng cũng rất tốt cho những người thực hiện chế độ giảm cân, những người đang giảm cân bằng ngũ cốc vào bữa sáng sẽ ăn ít hơn trong ngày nếu họ thay thế bằng trứng.

Các loại cá béo

Các loại cá béo như cá hồi, cá thu, cá mòi, cá trích đều là những thực phẩm chứa chất béo tốt cho sức khỏe. Những loại cá này chứa nhiều axit béo omega – 3 tốt cho tim mạch và các loại chất dinh dưỡng khác. Các nhà khoa học cho biết, những người thường xuyên ăn cá có xu hướng sống lành mạnh hơn và có tỷ lệ mắc các bệnh tim mạch, trầm cảm, mất trí nhớ thấp hơn so với những người ăn ít cá.

Phô mai

Được mệnh danh là thực phẩm vô cùng bổ dưỡng vì phải mất một ly sữa đầy chỉ để sản xuất ra một lát phô mai mỏng. Trong phô mai có chứa rất nhiều canxi, vitamin B12, phốt pho và selenium. Lượng protein trong 1 lát phô mai là 7,6 gram, tương đương với một ly sữa. Giống như các sản phẩm từ sữa giàu chất béo khác, phô mai có chứa các axit béo làm giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường týp 2.

Minh Huệ (Theo Dailymail, 3/2016)

5 loại thực phẩm nên tránh khi bị sốt

Dưới đây là những loại thực phẩm bạn nên tránh khi đang bị sốt:

Sữa

Tránh uống sữa chưa tiệt trùng hoặc các sản phẩm sữa vì vi khuẩn trong sữa tươi có thể nguy hiểm cho những người có hệ miễn dịch yếu

Thịt

Cá, thịt bò và thịt đỏ có hàm lượng cholesterol cao và khó tiêu vì vậy không nên ăn những món này khi đang bị sốt.

Thực phẩm chiên rán

Đồ ăn sẵn, đặc biệt là những món chiên rán sẽ gây viêm do chứa hàm lượng chất béo cao. Nó làm suy yếu hệ miễn dịch và do vậy hãy ăn những món lành mạnh thay vì khoai tây chiên hay thực phẩm chiên rán.

Nước ép đóng hộp

Các loại nước ép đóng hộp chứa nhiều đường làm giảm khả năng tế bào bạch cầu chống lại bệnh tật. bạn có thể lựa chọn nước ép hoa quả tươi tự làm hoặc từ nguồn hợp vệ sinh.

Cà phê/trà

Sốt gây mất nước do làm tăng nhiệt độ. Cà phê và trà cũng góp phần làm mất nước. Vì vậy, tốt nhất nên tránh những loại đồ uống này. Nếu bạn uống cà phê hoặc trà, hãy uống vài cốc nước sau đó để duy trì độ ẩm của cơ thể.

BS Cẩm Tú

(Theo THS)

Ung thư: chẩn đoán sớm giúp điều trị có kết quả

Tầm quan trọng của chẩn đoán sớm ung thư

Việc phát hiện và chẩn đoán bệnh ung thư trên thực tế đã trải qua một quá trình lịch sử khá dài với các thông tin được ghi nhận từ phương pháp khám bệnh lâm sàng đơn giản đến các phương pháp cận lâm sàng với nhiều phương tiện, kỹ thuật ngày càng tinh vi, hiện đại đã cho phép y học tiếp cận hầu như các ngóc ngách của cơ thể con người, kể cả những nội tạng bên trong để phát hiện bệnh lý. Trong quá trình lịch sử phát triển đó, đáng lẽ ra y học phải phát hiện được bệnh trước khi chẩn đoán bệnh, có nghĩa là phải chủ động tìm phát hiện ra người bệnh chứ không thụ động chờ bệnh nhân đến khám do cảm thấy khó chịu vì đã mang trong người một khối u; để rồi sau đó nhận được chẩn đoán bệnh hầu như bao giờ cũng quá muộn. Do đó y học hiện đại đã quan niệm việc phát hiện và chẩn đoán bệnh ung thư là hai giai đoạn kế tiếp nhau của một quá trình duy nhất để xác định bệnh ung thư.

Nội soi vòm mũi họng tầm soát ung thư vòm họng

Nội soi vòm mũi họng tầm soát ung thư vòm họng

Theo các nhà khoa học, hàng năm trên thế giới có hàng chục triệu người mắc bệnh ung thư và hàng triệu người chết vì căn bệnh hiểm nghèo này. Do khoảng thời gian được sống thêm kể từ lúc xác định bệnh đến khi tử vong của đa số các trường hợp ung thư giai đoạn cuối thường không quá 6 tháng nên trong suốt thời gian qua vẫn quan niệm rằng: khi chẩn đoán một trường hợp bị mắc bệnh ung thư thì có nghĩa là đã treo một cái án tử hình cho bệnh nhân. Sự thật phũ phàng này sẽ dẫn đến một tâm lý thất bại, làm nặng thêm tình trạng bệnh lý vốn có và vô tình đẩy người bệnh đến sự tuyệt vọng. Các nhà khoa học căn cứ vào những hiểu biết mới về thời gian nhân đôi khối u, khả năng miễn dịch và khỏi bệnh tự phát, tiến triển của ung thư theo giai đoạn lâm sàng gồm khối u - hạch vùng - di căn ký hiệu TNM (T: tumor là khối u, N: lymph node là hạch vùng, M: metastasis là di căn) và loại tế bào mô học, mô bệnh học... nên đã giúp cho nền y học hiện đại nhận thức được rõ ràng việc phát hiện và chẩn đoán sớm ung thư sẽ có ảnh hưởng quyết định quan trọng đến thái độ xử trí, kết quả điều trị và tiên lượng bệnh. Phát hiện sớm là tìm ra được các tổn thương ung thư khi chúng chưa biểu lộ ra bằng các triệu chứng lâm sàng, gọi là giai đoạn tiền lâm sàng của ung thư. Tuy nhiên ở giai đoạn này, khối u thường đã có đường kính khoảng 1 - 2cm, nghĩa là đã có hàng tỉ tế bào ung thư hiện diện; vì vậy không thể bảo đảm rằng không có một tỉ lệ nhất định các tế bào ung thư đã di căn đi nơi khác và không bị tiêu diệt để trở thành các ổ ung thư thứ phát. Do đó, thực tế đã có một số trường hợp ung thư không có các triệu chứng nhưng khi được phát hiện thì khối u đã xâm lấn, thậm chí di căn đi khá xa. Cũng trong giai đoạn này, y học có khả năng chữa khỏi bệnh hoàn toàn ít nhất 50% các trường hợp ung thư, không phải khỏi bệnh 5 năm như vẫn hiểu theo quan niệm cũ trước đây hay ít ra thời gian bệnh nhân được sống thêm sẽ kéo dài hơn so với thời gian trước.

Hiện nay vấn đề phát hiện sớm bệnh ung thư đã được các nhà khoa học quan tâm đến những mục tiêu cụ thể hơn như: phát hiện ung thư tại chỗ, ung thư ở giai đoạn 0, ung thư nội biểu mô, ung thư tiền xâm nhập... tùy theo thuật ngữ quen gọi của các nhà khoa học; trong giai đoạn này ung thư chưa di căn và có khả năng chữa khỏi hoàn toàn. Tuy vậy trên thực tế, việc phát hiện sớm ung thư là vấn đề hết sức khó khăn, tốn nhiều công sức và chi phí thực hiện. Khả năng phát hiện sớm ung thư ở thời kỳ có ích sẽ đáp ứng được yêu cầu chữa bệnh có hiệu quả, trước hết là còn chỉ định được phẫu thuật cắt bỏ khối u kịp thời.

Yêu cầu cần thiết chẩn đoán xác định sớm ung thư

Việc chẩn đoán sớm ung thư trước tiên là phải xác định được bệnh một cách chắc chắn, loại trừ được khả năng dương tính giả cũng như âm tính giả. Chẩn đoán âm tính giả thường hay bỏ sót ung thư sẽ làm cho trường hợp ung thư đáng lẽ ra có thể chữa trị được trở thành không chữa trị được vì đã để lỡ mất cơ hội điều trị kịp thời, chúng cũng sẽ dẫn đến việc điều trị cho trường hợp không mắc bệnh ung thư phải chịu chi phí lớn về những tổn thất vô lý mà người bác sĩ vô tình chẩn đoán vì cho đến nay y học vẫn chưa đủ khả năng xác định ung thư với mức độ chính xác tuyệt đối trong tất cả mọi trường hợp. Chẩn đoán sớm một trường hợp ung thư là phải xác định rõ bệnh ung thư ngay sau khi phát hiện sớm, vì vậy thường phụ thuộc vào khả năng phát hiện. Một chẩn đoán thực sự sớm đối với bệnh ung thư ở môi trường bệnh viện qua thăm khám thường quy của các chuyên khoa chỉ mang tính cá biệt hay tình cờ. Việc phát hiện sớm bệnh ung thư hiện nay là một nội dung quan trọng trong chăm sóc sức khỏe ban đầu của y tế cộng đồng. Chúng có ý nghĩa sàng lọc khi đi tìm những tổn thương nghi ngờ có khả năng mắc bệnh ung thư hay là đã mắc bệnh ung thư ở những người trông vẻ bên ngoài bình thường, vì vậy chỉ có tính chất định hướng. Phát hiện sớm ung thư phải bảo đảm hạn chế đến mức tối đa nguy cơ bỏ sót ung thư, do đó trong các chương trình phát hiện bao giờ cũng hình thành nhóm bệnh nhân nghi ngờ. Với nhiều kỹ thuật hiện đại, tiên tiến, có độ tin cậy cao; các nhà khoa học đã kiểm tra lại tất cả mọi trường hợp nghi ngờ hoặc dương tính qua việc phát hiện để khẳng định, phân loại ung thư, loại vi thể... vì chúng có liên quan chặt chẽ đến việc lựa chọn phác đồ điều trị phù hợp. Qua thời gian tích lũy kinh nghiệm, hiện nay y học đã rút ngắn được sự chênh lệch về độ chính xác giữa phát hiện sàng lọc, định hướng với chẩn đoán quyết định. Khoảng cách về tỷ lệ dương tính giả và âm tính giả đang dần được thu hẹp lại, khả năng xác định được loại bệnh tiến lại gần nhau hơn. Thực tế trong hàng loạt phương pháp cổ điển vẫn đang dùng cùng với những phương pháp hiện đại, có phương pháp chỉ dành riêng cho phát hiện hoặc chẩn đoán xác định nhưng cũng có xét nghiệm đáp ứng được cho cả hai mục đích.

Có nhiều cách phát hiện sớm ung thư nhưng phần lớn các nhà khoa học đều thống nhất xu hướng chung là phải phát hiện một cách chủ động, định kỳ và có hệ thống cho hàng loạt người, nhất là những người có nguy cơ cao mắc bệnh ung thư. Các nhà khoa học cũng đã thống nhất phương pháp phát hiện bệnh ung thư theo 5 yêu cầu: đơn giản, nhạy, đáng tin cậy, có hiệu suất và tiết kiệm. Đơn giản là thực hiện dễ dàng, nhanh chóng với phương tiện tối thiểu, ít gây phiền hà cho người bệnh, bảo đảm an toàn, có khả năng áp dụng rộng rãi. Nhạy là có khả năng phát hiện bệnh sớm với tỉ lệ âm tính giả thấp, kết quả rõ ràng với ít nguyên vật liệu. Đáng tin cậy là tỉ lệ dương tính giả cũng phải thấp. Có hiệu suất là áp dụng được cho nhiều loại ung thư phổ biến và ở nhiều vị trí khác nhau. Tiết kiệm là ít tốn công sức và chi phí thực hiện. Có thể xem 5 yêu cầu này là 5 tiêu chuẩn cụ thể, cần thiết cho việc đánh giá phương pháp phát hiện bệnh ung thư.

Tầm soát ung thư vú

Tầm soát ung thư vú

Các phương pháp phát hiện bệnh ung thư

Về lâm sàng: phương pháp thường được thực hiện là khám lâm sàng đơn thuần. Phương pháp này chỉ áp dụng trong điều tra cơ bản hoặc bước đầu ghi nhận các trường hợp ung thư, tỉ lệ bỏ sót ung thư với âm tính giả sẽ rất cao nhưng vẫn được chú ý trong nhiều mặt, nhất là có giá trị sàng lọc, định hướng đối với những ung thư ở cạn hay ở các hốc tự nhiên từ kết quả phát hiện. Những tổn thương ở cạn dạng khối u được phát hiện là những khối sưng dưới da, cơ, phần mềm, khớp, tinh hoàn, hạch ngoại vi vì có thể sờ nắn được; nhất là ở vú và vùng đầu, cổ, mặt như u tuyến giáp, u tuyến nước bọt, hạch bạch huyết... Khả năng tái phát được phát hiện ở những người mắc ung thư đã được điều trị cũng có ý nghĩa sàng lọc, định hướng, giúp cho việc điều trị có kết quả nhưng chưa hẳn đã kịp thời; trong thực tế nhờ theo dõi định kỳ nên bác sĩ đã kéo dài một cách đáng kể tuổi thọ của người bệnh ung thư. Những người có nguy cơ cao mắc bệnh ung thư gồm các trường hợp tiền ung thư, hội chứng cận tân sản... với chỉ số sàng lọc bằng vấn chẩn, khám lâm sàng kỹ càng, kể cả hồi cứu tiền sử bệnh mới có thể tìm ra được đối tượng. Những trường hợp này không phát hiện các dấu hiệu chỉ điểm trực tiếp của ung thư mà chỉ ghi nhận các dấu hiệu đe dọa hoặc báo trước gián tiếp một tiến triển ác tính, phát hiện có ý nghĩa gợi ý khi tổn thương ung thư nằm ở sâu mà phương pháp khám sờ nắn không thể phát hiện được. Tuy nhiên trên thực tế nhiều người thuộc đối tượng có nguy cơ cao mắc ung thư chưa hẳn đã bị mắc bệnh, trái lại có một số trường hợp đã mắc bệnh ung thư tiến triển rồi. Vì vậy, các nhà khoa học khuyến cáo nên lưu ý đến 7 triệu chứng báo động bao gồm: Thay đổi hoạt động bình thường của ruột, bàng quang như đi tiêu chảy kéo dài không rõ nguyên nhân, đi tiểu rắt và tiểu khó kéo dài... Vết lở loét kéo dài không khỏi với các loại thuốc điều trị thông thường, chảy máu, tiết dịch bất thường. Có khối u ở vú hoặc khối u ở bất kỳ nơi nào của cơ thể, có khi chỉ là chỗ bị dày lên. Bệnh nhân có thể tự phát hiện tổn thương khối u khi sờ nắn, soi gương, tắm rửa... Khó nuốt, rối loạn tiêu hóa kéo dài. Có nốt ruồi thay đổi kích thước, màu sắc, nhất là chảy máu. Ho dai dẳng, khàn tiếng kéo dài. Việc chẩn đoán bệnh ung thư thực tế trên lâm sàng bao giờ cũng muộn, do đó xác định chắc chắn một bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối như các trường hợp thường gặp là điều không khó. Do đó muốn biết rõ loại mô tế bào, phân loại bệnh theo hệ thống mã hóa TNM, độ biệt hóa khối u... thì việc khám lâm sàng đơn thuần không đủ để xác định, đặc biệt là các ung thư ở sâu trong nội tạng hoặc ở giai đoạn cuối cùng; vì vậy khả năng bỏ sót là điều không thể tránh khỏi. Ngoài 7 triệu chứng báo động đã nêu trên, các nhà khoa học còn lưu ý thêm một số triệu chứng khác như: sút cân nhiều trên 5kg chưa rõ nguyên nhân ở những người đứng tuổi đang khỏe mạnh, sốt kéo dài chưa rõ nguyên nhân; mệt mỏi, chán ăn kéo dài; đau có liên quan đến loại và vị trí ung thư gồm đau cơ, xương, bìu, đau khi đi tiểu, đau bả vai... kéo dài và không rõ nguyên nhân; thiếu máu, suy mòn cơ thể chưa rõ nguyên nhân; da khô, da sạm đen, da cứng, viêm da cơ... Việc phát hiện ung thư với những dấu hiệu gợi ý trong khi ung thư đã tiến triển rất khó khăn, vì vậy bắt buộc các nhà khoa học phải căn cứ thêm vào nhiều phương pháp cận lâm sàng khác.

Về cận lâm sàng: phải sử dụng một số kỹ thuật y học cần thiết như các phương pháp vật lý, phương pháp nội soi, phương pháp sinh học, phương pháp hình thái học... Các phương pháp vật lý thường là phương pháp điện quang bao gồm chụp X-quang, chụp nhiệt, chụp lấp lánh, chụp siêu âm, chụp cắt lớp tỉ trọng hay chụp bằng máy điện toán cắt lớp, chụp bằng máy cộng hưởng từ trường hạt nhân và chụp hình qua kháng thể đơn dòng... Các phương pháp nội soi còn được gọi là phương pháp soi trong được thực hiện bằng những kỹ thuật từ đơn giản đến phức tạp. Các phương pháp sinh học gồm những phương pháp miễn dịch, xét nghiệm sinh hóa... Các phương pháp hình thái học gồm phương pháp giải phẫu bệnh học, đặc biệt là giải phẫu bệnh học vi thể thường gọi là mô bệnh học và phương pháp tế bào bệnh học. Thực tế sau khi kiểm tra những phương pháp kỹ thuật phát hiện chẩn đoán bệnh ung thư, các nhà khoa học đã thống nhất rằng chỉ có phương pháp tế bào bệnh học mới đáp ứng được đầy đủ cả 5 yêu cầu đơn giản, nhạy, đáng tin cậy, có hiệu suất và tiết kiệm; đồng thời cũng thỏa mãn mục tiêu chăm sóc sức khỏe ban đầu đối với bệnh ung thư thông qua sự phát hiện bệnh chủ động định kỳ, có hệ thống cho nhiều người có nguy cơ mắc bệnh cao. Chi phí cho một lần xét nghiệm tế bào bệnh học rẻ hơn rất nhiều so với các phương pháp xét nghiệm mô bệnh học, phương pháp kỹ thuật chụp bằng máy điện toán cắt lớp, máy cộng hưởng từ trường hạt nhân…

Lời khuyên của thầy thuốcThực tế ghi nhận hiện nay trong nhiều trường hợp, việc phát hiện và chẩn đoán bệnh ung thư hầu như bao giờ cũng muộn. Khi phát hiện và chẩn đoán xác định rõ ràng, cụ thể thì người bệnh thường ở vào giai đoạn cuối; ngoài khối u được phát hiện đã phát sinh thêm tình trạng nổi các hạch vùng và di căn đi nơi khác làm cho tiên lượng bệnh khá tồi tệ. Vì vậy, việc phát hiện và chẩn đoán sớm bệnh ung thư có ảnh hưởng quyết định rất lớn đến thái độ xử trí biện pháp can thiệp, kết quả điều trị và tiên lượng bệnh; có nghĩa là ung thư chẩn đoán sớm sẽ giúp việc điều trị có kết quả. Tầm quan trọng và yêu cầu cần thiết của việc chẩn đoán xác định sớm ung thư phải được các nhà khoa học cũng như cộng đồng quan tâm trong khi những yếu tố nguy cơ gây nên bệnh ung thư đã và đang tác động, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống hàng ngày của con người thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau.

Nội soi vìm mũi họng tầm soát ung thư vòm họng

TTƯT.BS. NGUYỄN VÕ HINH

Tương lai sẽ có keo chữa lành vết thương trong 60 giây

Vết khâu và chỉ khâu cũng có thể tăng nguy cơ gây tổn thương, nhiễm trùng mô/nội tạng, quy trình này không phải lúc nào cũng có bác sĩ, đặc biệt ở khu vực khó tiếp cận, mô mong manh, dễ vỡ như tim, phổi và động mạch. Trong nghiên cứu được xuất bản trên Tạp chí Khoa học Diễn dịch, các nhà nghiên cứu cho biết họ đang phát triển một loại keo phẫu thuật kết dính cao, nhanh khô ráo có thể chữa lành mô bị tổn thương.

Các nhà nghiên cứu cho biết họ muốn phát triển một loại keo phẫu thuật kết dính cao, nhanh khô ráo có thể chữa lành mô bị tổn thương

Trong khi một số loại keo y tế hiện nay thường có độ kết dính kém, và đặc biệt không đàn hồi, thường không được sử dụng trong điều kiện ẩm ướt hoặc vị trí cơ học đầy phức tạp trong cơ thể. Những loại keo có sẵn hiện nay không thích hợp cho hầu hết ứng dụng phẫu thuật và chúng không thể tự hoạt động nếu không cần khâu hoặc ghim, bởi vì chúng thiếu sự kết dính, tính đàn hồi, sự kết dính mô và độ bền.

"Bằng cách sử dụng chuyên môn trong lĩnh vực vật liệu y học tái tạo, chúng tôi có mục đích tạo ra một sự khắc phục thật sự cho vấn đề này thông qua nỗ lực đa ngành cùng với nhiều bác sĩ và nhà khoa học sinh học”, PGS.TS Ali Khademhosseini, Viện Khoa học Kỹ thuật Sinh học Wyss (Đại học Havard).

Keo được đặt tên MeTro là một loại hydrogel được làm từ tropaelastin, một loại protein tự nhiên trong cơ thể người. Nó có thể trực tiếp được áp dụng để chữa lành về thương bất kể điều kiện ẩm ướt, và sau khi được kính hoạt với tia cực tím (UV), nó sẽ dần chắc lại để tạo ra “một con dấu hoàn chỉnh” - tức làm kín miệng vết thương chỉ trong vài giây. “Khi quan sát Metro, bạn có thể nhìn thấy nó hoạt động giống như một loại chất lỏng, lấp kín khe hở và bịt kín miệng vết thương”, GS. Anthony Weiss, Đại học Charles Perkin ở Sydney, Australia cho biết, và so sánh việc áp dụng Metro với “dán kín phong bì”. “Nó phản ứng tốt về mặt sinh học, và tương tác chặt chẽ với mô trong cơ thể người để thúc đẩy việc làm lành vết thương”, ông cho biết thêm. Loại keo này còn có một loại enzym tích hợp cho phép nó tự phân hủy theo thời gian, có thể từ vài giờ đến vài tháng, không hề có bất kỳ dấu hiệu ngộ độc. Tùy thuộc vào loại và vị trí vết thương, keo sẽ kết dính trong bao lâu, các nhà khoa học cho biết.

"Chúng tôi nhận thấy Metro có thể giải quyết nhiều vấn đề mà các loại keo y tế có sẵn hiện nay không thể. Bây giờ chúng tôi sẵn sàng chuyển giao nghiên cứu để thử nghiệm trên người. Tôi hy vọng MeTro sẽ sở được sử dụng trong lâm sàng, cứu mạng sống con người”, ông Weiss chỉ ra tiềm năng vô hạn của keo.

Loại keo mang tính cách mạng, vẫn đang chờ đợi kết quả thử nghiệm lâm sàng trên người, dự kiến có thể dùng điều trị vết thương trong 3 năm tới, theo Daily Sabah.

Hoa Quỳnh

(Theo Daily Sabah)

Cách nào để ăn trái cây bổ dưỡng và an toàn?

Xin hỏi captan là chất gì? Làm thế nào để nhận biết loại trái cây đó là an toàn?

Bùi Thị Thiện (Ninh Bình)

Captan là một loại hóa chất trừ nấm hiệu quả, có thể diệt trừ được cả những sợi nấm mới xâm nhập và phát triển trong mô lá cây và quả. Trước đây, captan được dùng tương đối rộng rãi để chống nấm bệnh bảo vệ cây trồng, trong đó có cây ăn quả. Vỏ quả tươi có captan thì sáng màu, bảo quản được lâu, không bị nấm xâm nhập làm hư hỏng. Nhưng captan có độc tính với người và động vật máu nóng, bởi vậy mà nhiều nước trên thế giới đã cấm sử dụng. Ở nước ta hóa chất này cũng đã cấm sử dụng từ năm 1994. Cũng cần nói thêm, không chỉ captan mà một số các hóa chất trừ sâu, trừ nấm khác tuy không phải là chất cấm sử dụng nhưng nếu sử dụng không đúng cách (chẳng hạn phun gần thời điểm thu hoạch, các hóa chất này chưa có thời gian phân hủy) thì vẫn gây hại cho sức khỏe. Tuy nhiên, những hóa chất này chỉ cơ quan kiểm định mới biết được, còn mắt thường rất khó có thể biết có tồn dư hay không. Kinh nghiệm khi mua trái cây, rau, củ, quả tươi ở chợ về bỏ trong túi nilon buộc kín miệng lúc mở ra có mùi lạ thì cần cảnh giác, dễ dư lượng hóa chất. Tốt nhất bạn nên mua trái cây tươi, tại các cửa hàng có uy tín, có xuất xứ rõ ràng. Mặc dù vậy, để tránh sự cố đáng tiếc, khi mua các loại quả này bạn vẫn nên cảnh giác bằng cách rửa kỹ vỏ quả dưới vòi nước chảy, gọt vỏ rồi mới bổ ra ăn.

BS. Trần Quang Nhật

Phòng bệnh viêm quanh khớp vai

Vì vậy, cần có biện pháp phòng bệnh thích hợp.

Khớp vai là một khớp có cấu tạo phức tạp, bao gồm 5 khớp nhỏ: đó là khớp mõm cùng cánh tay, khớp vai chính, khớp bả vai lồng ngực, khớp mõm cùng xương đòn, khớp ức đòn. Khớp vai có ảnh hưởng nhiều đến phần trên của lưng và các rễ thần kinh vùng cổ, các hạch giao cảm cổ. Viêm quanh khớp vai là một bệnh bao gồm những trường hợp đau, hạn chế vận động khớp vai và tổn thương ở phần mềm quanh khớp (chủ yếu là gân, cơ, dây chằng và bao khớp). Tuy vậy, viêm quanh khớp vai không làm tổn thương của đầu xương, sụn khớp và bao hoạt dịch.

Nguyên nhân gây viêm quanh khớp vai

Do chấn thương mạnh vào vùng vai hoặc là những chấn thương do nghề nghiệp, tai nạn (tai nạn lao động, tai nạn giao thông), do tập luyện thể thao, nhất là các môn có tác động mạnh vào khớp vai như cầu lông, bóng bàn, bóng chuyền... Viêm quanh khớp vai có thể liên quan đến thay đổi thời tiết (lạnh, ẩm). Ngoài ra, viêm quanh khớp vai do viêm gân, thoái hoá, vôi hoá phần mềm của khớp vai thường gặp ở người lớn tuổi (trên 50 tuổi). Tuy vậy, có một số trường hợp không tìm thấy nguyên nhân một cách chính xác.

Viêm quanh khớp vai nếu điều trị không đúng có thể dẫn đến cứng khớp vai...

Viêm quanh khớp vai nếu điều trị không đúng có thể dẫn đến cứng khớp vai...

Triệu chứng viêm quanh khớp vai

Theo các chuyên gia xương khớp, có 4 thể lâm sàng của viêm quanh khớp vai, đó là cơ delta không hoạt động được do đứt các gân mũ cơ quay hoặc đứt các gân của bó dài gân nhị đầu dẫn đến giả liệt khớp vai hoặc đau vai đơn thuần thường do bệnh lý gân. Hoặc cứng khớp vai do co thắt bao khớp, viêm dính bao hoạt dịch, bao khớp dẫn đến giảm vận động khớp ổ chảo - xương cánh tay. Hoặc đau vai cấp do lắng động vi tinh thể.

Dù là thể lâm sàng nào, thường xuất hiện các cơn đau ở cánh tay và vai mỗi khi xoay cánh tay vào bên trong hoặc dang tay ra hai bên hoặc đưa cánh tay lên, hạ cánh tay xuống, cơn đau sẽ xuất hiện. Càng về sau, cơn đau sẽ xuất hiện với tần suất thường xuyên hơn rất nhiều, thậm chí cơn đau sẽ bắt đầu lan sang khuỷu tay, cánh tay, mỏm làm cho chức năng hoạt động của cánh tay gặp phải những cản trở nhất định. Thứ đến là bị hạn chế vận động. Khi thực hiện động tác xoay hoặc dang tay, đưa tay lên sẽ bị hạn chế kèm theo đau. Tuy vậy, một số trường hợp sau khi vượt qua ngưỡng đau, người bệnh sẽ thấy không còn bị đau nhức và có thể thực hiện một số động tác mang tính thụ động. Ngoài ra, do ảnh hưởng đối với các dây thần kinh vận động quanh khớp vai nên những khớp ngón tay trở nên cứng, khó co duỗi, nhất là khi thực hiện động tác gấp, duỗi không được nhịp nhàng.

Biến chứng do viêm quanh khớp vai

Thường bị đau khớp vai dai dẳng, nhất là lúc cử động. Cơn đau có thể ngừng sau một thời gian, nhưng sau đó lại tái phát với cảm giác đau dữ dội hơn làm cho cuộc sống và sinh hoạt của người bệnh bị đảo lộn. Nguy hiểm nhất là khi bị viêm quanh khớp vai nhưng không biết hoặc biết nhưng không được điều trị hoặc điều trị không đúng có thể dẫn đến cứng khớp vai làm cho người bệnh vận động khó khăn. Ngoài ra, viêm quanh khớp vai có thể làm tổn thương gân, thậm chí đứt gân làm mất khả năng vận động khớp vai.

Nguyên tắc điều trị

Khi thấy xuất hiện đau khớp vai do tai nạn hoặc do chơi thể thao nên được khám bệnh ngay, tốt nhất là khám chuyên khoa xương, khớp để được điều trị đúng, tránh để xảy ra các biến chứng. Nguyên tắc điều trị thường dùng thuốc giảm đau, chống viêm, giãn cơ. Ngoài ra, có thể sử dụng thêm loại glucossamin, chondroitin vừa có tác dụng giảm đau khớp vừa có tác dụng tái tạo khớp. Tuy vây, dùng loại thuốc nào, liều lượng ra sao là do bác sĩ khám bệnh cho mình chỉ định, người bệnh không tự động chẩn đoán, tự động mua thuốc để điều trị nếu không có chuyên môn về y học. Bên cạnh điều trị nội khoa (dùng thuốc) có thể kết hợp ý liệu pháp, xoa bóp. Điều trị ngoại khoa (phẫu thuật) khi thật cần thiết và do bác sĩ điều trị chỉ định.

Phòng bệnh thế nào?

Không nên lao động quá mức, nhất là động tác mang, vác, đội đầu nặng, sai tư thế. Cần hết sức thận trọng khi chơi các môn thể thao dễ gây chấn thương khớp vai (bóng bàn, cầu lông, bóng chuyền, cầu mây…).

Chú ý khi tham gia giao thông, đi đứng cần thận trọng, nhất là mặt bằng bị trơn trượt, đặc biệt với người cao tuổi, yếu.

Nên có chế độ dinh dưỡng hợp lý, đặc biệt là thực phẩm giàu canxi để xương được chắc, tránh bị loãng xương. Hàng ngày, nên vận động cơ thể với khớp vai nên tập đúng cách theo hướng dẫn của bác sĩ điều trị. Nếu đã bị viêm khớp quanh vai, nếu tập sai có thể làm bệnh nặng thêm.

BS. Việt Anh

Liệt thần kinh do nhiễm khuẩn thức ăn

Trước, trong và sau Tết là dịp mọi gia đình dùng nhiều loại thực phẩm nên cần phải chú ý đề phòng nhiễm loại vi khuẩn này.

C.botulinum là trực khuẩn có đặc điểm: sống trong điều kiện kị khí tuyệt đối, nghĩa là chúng phát triển trong môi trường không có oxy. Vi khuẩn này tồn tại trong đất, nước, phân động vật, ruột cá, ruột động vật có vú... Chúng xâm nhập vào thực phẩm, sinh độc tố gây ngộ độc cho cơ thể người ăn phải. Trong điều kiện nhiệt độ cao và các yếu tố môi trường bất lợi, vi khuẩn này chuyển thành các bào tử rất bền vững. Khi gặp điều kiện thuận lợi, vi khuẩn phát triển nhanh ở 3 - 43°C, trong môi trường không có oxy, ẩm ướt và độ pH acid yếu (pH> 4,6), bào tử lại biến đổi thành vi khuẩn và phát triển, tiết ra độc tố botulinum. Vi khuẩn gây bệnh ở người thường là C. botulinum týp A, B, E và F. Lưu ý rằng: bản thân vi khuẩn và bào tử của nó không gây ra bệnh mà chỉ độc tố do vi khuẩn sinh ra mới gây bệnh, gây liệt thần kinh.

Liệt cơ mắt do C.botulinum.

Liệt cơ mắt do C.botulinum.

Các trường hợp dễ nhiễm bệnh

Trên thực tế, các trường hợp sau đây dễ nhiễm C. botulinum mắc bệnh: thức ăn dễ nhiễm độc tố vi khuẩn thường là ở rau củ, nước sốt, thịt, hải sản đóng gói bằng phương pháp thủ công. Trẻ nhũ nhi: thường gặp do trẻ ăn mật ong, vì đây chính là nguồn chứa bào tử C. botulinum. Do đó, các bậc cha mẹ không nên cho trẻ dưới 1 tuổi sử dụng mật ong tươi. Khi trẻ ăn phải bào tử của vi khuẩn có trong mật ong, sau đó bào tử nảy nở và sinh độc tố trong ruột của trẻ và gây bệnh. Nhiễm khuẩn đường ruột ở người lớn, cơ chế cũng giống ở trẻ nhũ nhi, nghĩa là cũng do ăn mật ong hay thức ăn bị nhiễm khuẩn. Những người bị thương rất dễ nhiễm khuẩn từ vết thương.

Biểu hiện khi bị bệnh

Độc tố của vi khuẩn C. botulinum là độc tố thần kinh, vì vậy, đặc trưng của bệnh là gây liệt thần kinh cơ. Thời gian ủ bệnh của vi khuẩn C. botulinum nhiễm qua đường tiêu hóa sớm là 6 - 36 giờ, còn muộn là 6 - 8 ngày. Nói chung, thời gian ủ bệnh ngắn hoặc dài tùy thuộc lượng độc tố bị nhiễm nhiều hay ít. Triệu chứng bệnh thường là: nhìn mờ, nhìn đôi, nói khó, nuốt khó, khô miệng, buồn nôn, yếu cơ dần dần ở cả toàn thân. Các trường hợp nhiễm nặng có thể gây liệt cơ hô hấp và gây tử vong. Biểu hiện bệnh ở trẻ nhũ nhi thường thấy là ngủ gà, táo bón, khó bú, khó nuốt, khóc yếu. Đối với các trường hợp bệnh nhân bị nhiễm bệnh từ vết thương cũng có các triệu chứng giống như nhiễm bệnh từ thức ăn, nhưng chỉ khác là thời gian ủ bệnh kéo dài trong khoảng 7 - 14 ngày sau khi bị nhiễm khuẩn. Sở dĩ nhiễm khuẩn qua vết thương cần thời gian ủ bệnh lâu hơn vì vi khuẩn tăng sinh chậm nên phải trong thời gian dài mới có đủ số lượng và mới tiết ra đủ lượng độc tố để gây bệnh.

Việc chẩn đoán bệnh dựa vào kết quả xét nghiệm máu; xét nghiệm: phân, dịch nôn, dịch dạ dày, mẫu thức ăn nghi ngờ nhiễm khuẩn hoặc độc tố để phát hiện được bào tử và vi khuẩn.

Nha bào và vi khuẩn C. botulinum.

Nha bào và vi khuẩn C. botulinum.

Phương pháp điều trị

Bệnh nhân phải nhập viện để điều trị nhằm theo dõi chặt các triệu chứng, đo phế dung ký, oxy máu, khí máu động mạch để đánh giá mức độ suy hô hấp. Phải đặt nội khí quản và cho thở máy đối với bệnh nhân bị liệt tiến triển nhanh, hạ oxy máu kèm tăng CO2 máu. Phải dùng kháng độc tố càng sớm càng tốt, vì điều trị giải cảm ứng sớm và tích cực mới ngăn chặn được bệnh tiến triển nặng. Cần dùng thuốc gây nôn hay rửa dạ dày đối với các trường hợp ngộ độc do thức ăn mà thời gian còn sớm. Trường hợp bị thương, phải rửa sạch vết thương và dùng kháng sinh bôi lên vết thương để diệt trừ vi khuẩn ở vết thương, sau đó phải dùng kháng sinh theo kháng sinh đồ. Chú ý nâng cao thể trạng cho bệnh nhân bằng việc dùng các vitamin nhóm B, C và ăn uống tốt.

Vi khuẩn C.botulinum - một thủ phạm gây nhiễm khuẩn thực phẩm.

Vi khuẩn C.botulinum một thủ phạm gây nhiễm khuẩn thực phẩm.

Lời khuyên của bác sĩ

Liệt thần kinh do C. botulinum là bệnh nặng, nhưng có thể phòng tránh được bằng các biện pháp dễ thực hiện như sau: chống nhiễm khuẩn thức ăn bằng cách ngăn cản sự phát triển của C. botulinum như: dùng nhiệt độ cao (100oC); tạo môi trường axit (pH< 4.6); chế biến thực phẩm bằng cách làm khô, ướp muối hoặc đường. Tuy bào tử vi khuẩn bền với nhiệt, nhưng độc tố của nó thì dễ bị hủy bởi nhiệt độ cao, vì vậy, dùng phương pháp nấu lại các loại thức ăn đóng gói thủ công ở nhiệt độ 100°C trong 10 - 20 phút là biện pháp phòng bệnh tốt. Đối với thực phẩm đóng gói công nghiệp như thịt hộp, cá hộp, không nên sử dụng nếu thấy hộp bị phồng, rách hay cận đát hoặc đã hết hạn sử dụng.

Bảo quản thức ăn bằng cách: giữ thức ăn chưa dùng ở nhiệt độ dưới 5oC; thịt nên để đông lạnh, chỉ rã đông ngay trước khi nấu. Nên dùng hết thực phẩm đã rã đông, nhưng không cấp đông lại thực phẩm đã rã đông vì có thể bị nhiễm bệnh. Đối với thực phẩm đã nấu chín, phải giữ ở nhiệt độ trên 57oC hoặc dưới 5oC. Rửa tay, dụng cụ, tiếp xúc thức ăn bằng xà phòng sau khi chế biến thức ăn tươi, thịt, cá.

ThS. Nguyễn Thế Minh

Barrett thực quản

( Tuấn Kiệt - Vũng Tàu) Barrett thực quản là một chứng bệnh thuộc về đường tiêu hóa, hay gặp ở những người mắc bệnh trào ngược dạ dày trong ...